Các dạng hợp chất: glucosamine sulfate, glucosamine hydrochloride, N-acetyl glucosamine, chitosamine.
Glucosamine là một hợp chất được tìm thấy tự nhiên trong cơ thể người, cấu tạo từ glucose và amino acid glutamine. Glucosamine cần để sản xuất glycosaminoglycan, được dùng trong quá trình hình thành và sửa chữa sụn và các mô khác trong cơ thể. Sự sản xuất glucosamine sẽ giảm dần theo tuổi.
Glucosamine được xem như là một chất bổ sung dinh dưỡng trong các thuốc. Các viên bổ sung glucosamine được sản xuất trong các phòng thí nhiệm từ chitin, một chất được tìm thấy trong vỏ của tôm, cua, tôm hùm và các sinh vật biển khác. Ngoài bổ sung dinh dưỡng ra, glucosamine còn được sử dụng cho thức uống trong thể thao và mĩ phẩm. Glucosamine thường kết hợp với chondrotin sulfate, một phân tử cũng hiện diện tự nhiên trong các sụn. Chondrotin tạo tính đàn hồi cho sụn và được tin là ngăn ngừa sự phá hủy của sụn bởi các enzyme. Glucosamine thỉnh thoảng cũng được kết hợp với methylsulfonylmethane, hay MSM, trong các viên bổ sung dinh dưỡng.
Tại sao người ta dùng glucosamine?
1. Bệnh viêm khớp xương mãn tính.
Các viên bổ sung glucosamine được sử dụng rộng rãi cho bệnh viêm khớp xương mãn tính, đặc biệt là viêm khớp xương đầu gối mạn. Trong bệnh này, các sụn – là các vật liệu có tính chất đàn hồi như cao su tạo thành lớp đệm cho các khớp xương, trở nên cứng và mất độ đàn hồi. Nó làm cho các khớp xương dễ bị thương tổn và dẫn đến đau, sưng, khó cử động và các tình trạng xấu hơn thế nữa. Bởi vì glucosamine được dùng để tạo và sửa chữa các sụn khớp, việc bổ sung glucosamine được nghĩ rằng có thể giúp sửa chữa các sụn bị thương tổn bằng cách làm tăng nguồn cung cấp glucosamine cho cơ thể. Có những bằng chứng khả quan cho thấy glucosamine có thể làm giảm các triệu chứng đau và làm chậm lại tiến trình của viêm khớp mạn. Ví dụ một nghiên cứu trên báo Archives of Internal Medicine theo dõi những người bị viêm khớp trong vòng 3 năm. Các nhà nghiên cứu theo dõi cơn đau và sự cải thiện trong cấu trúc xương bằng tia X. Họ cho 202 người với các triệu chứng viêm khớp mạn từ nhẹ đến trung bình uống hoặc 1.500 mg glucosamine sulfate mỗi ngày hoặc sử dụng placebo. Sau khảo sát, các nhà nghiên cứu nhận ra rằng glucosamine làm chậm tiến trình của viêm khớp đầu gối mạn so với nhóm giả dược. Những người uống glucosamine cải thiện đáng kể các triệu chứng đau và khó cử động. Khi chụp tia X, không thấy có sự thay đổi đáng kể nào về việc hẹp khoảng cách giữa các khớp (dấu hiệu của sự phá hủy khớp) ở nhóm uống glucosamine. Ngược lại, khoảng cách giữa các khớp ở nhóm giả dược hẹp lại trong vòng 3 năm tiến hành cuộc nghiên cứu.
Một trong những khảo sát lớn nhất về tác dụng của glucosamine đối với viêm khớp mạn là cuộc khảo sát kéo dài 6 tháng được bảo trợ bởi Viện sức khỏe quốc gia. Được gọi là GAIT, cuộc khảo sát so sánh tác dụng của glucosamine sulfate, glucosamine hydrochloride, chodroitin sulfate, kết hợp giữa glucosamine và chondroitin sulfate, thuốc celecoxib và placebo trên các bệnh nhân bị viêm khớp mạn.
Glucosamine hay chondroitin riêng lẻ không làm giảm cơn đau của toàn thể nhóm, mặc dù các bệnh nhân bị đau khớp từ trung bình đến nặng có xu hướng đáp ứng với glucosamine. Những phân tích gần đây về các nghiên cứu trước, bao gồm cả thử nghiệm GAIT, kết luận rằng glucosamine hydrochloride không hiệu quả. Còn nghiên cứu trên glucosamine sulfate thì không được thiết kế tốt nên cũng không thể đưa ra kết luận. Chúng ta cần nhiều nghiên cứu hơn nữa.
2. Những tình trạng khác mà glucosamine cũng được dùng là viêm khớp dạng thấp, bệnh viêm ruột (bệnh Crohn và bệnh viêm loét ruột kết), các bệnh về da, mặc dù chúng ta cần nhiều nghiên cứu và bằng chứng hơn nữa.
GLUCOSAMINE: 10 ĐIỀU BẠN NÊN BIẾT.
Glucosamine là một chế phẩm bổ sung phổ biến được dùng để trị viêm khớp gối mạn. Trong khi các lợi ích của glucosamine vẫn còn đang được bàn cãi, chế phẩm bổ sung này được thấy có tác dụng giảm đau ở một vài bệnh nhân. Có một vài báo cáo sơ bộ gợi ý việc kết hợp glucosamine với vitamin C, bromelain, chondroitin sulfat hay mangan có thể tăng cường tác dụng của glucosamine đối với viêm khớp mạn. Một báo cáo khác cho thấy có thể có tác dụng trên bệnh vẩy nến khi dùng chung glucosamin với dầu cá. Có rất nhiều giả thuyết, nhưng điều nào là sự thật? Nếu bạn dùng glucosamine hay nếu bạn đang xem xét việc dùng thử glucosamine, có 10 điều bạn cần biết về chất này.
1.      Glucosamine là một chất tự nhiên được tìm thấy trong các sụn khỏe mạnh.
Glucosamine là một thành phần của glucosaminoglycan trong sụn và trong hoạt dịch. Các nghiên cứu chỉ ra rằng uống glucosamine cho kết quả giảm đau tương đương với một vài loại NSAIDs. Cũng có giả thuyết cho rằng glucosamine làm chậm quá trình phá hủy sụn ở những bệnh nhân viêm khớp mạn.
2.      Kết quả từ NIH Glucosamine /Chondroitin Arthritis Intervention Trial (GAIT) đưa ra những kết quả không khả quan.
GAIT được thiết kế để kiểm tra ngắn hạn (6 tháng) tác dụng của glucosamine và chondroitin trong việc giảm đau ở một số lượng lớn người tham gia bị viêm khớp gối mạn. Những người tham gia được phân chia ngẫu nhiên vào 1 trong 5 nhóm điều trị sau:
-         Glucosamine riêng lẻ.
-         Chondroitin sulfate riêng lẻ.
-         Glucosamine và Chondroitin sulfate kết hợp.
-         Celecoxib.
-         Giả dược.
Kết quả từ thử nghiệm GAIT cho thấy: những người dùng celecoxib có sự giảm đau đáng kể về mặt thống kê so với nhóm giả dược. Không có sự khác biệt quan trọng nào về tác dụng điều trị giữa những nhóm còn lại so với nhóm giả dược. Nhưng trong một tập hợp nhỏ của nhóm nghiên cứu gồm những người bị đau vừa đến nặng, glucosamine kết hợp với chondroitin sulfate có cho một tác dụng giảm đau đáng kể về mặt thống kê so với nhóm giả dược. Nhưng các nhà khoa học lại cho rằng kích thước của tập hợp này không đủ lớn nên những kết quả tìm được chỉ mang tính sơ bộ ban đầu và cần nhiều nghiên cứu hơn nữa để khẳng định điều này.
3.      Những người đang muốn dùng thử glucosamine nên bàn bạc về kế hoạch điều trị tổng quan bệnh viêm khớp với bác sĩ của mình
 Bạn nên thông báo cho bác sĩ biết về kế hoạch điều trị bằng glucosamine để bác sĩ có thể xem xét kĩ càng hơn. Bác sĩ cũng có thể cho bạn biết một vài vấn đề an toàn khi sử dụng glucosamine.
4. Glucosamine được bán như một chế phẩm bổ sung được chiết xuất từ mô động vật, đặc biệt là từ vỏ cua, tôm và tôm hùm.
Hầu hết mọi nguồn thông tin đều cho rằng glucosamine không nên được sử dụng bởi những bệnh nhân dị ứng với đồ biển. Nhưng các nguồn khác (bao gồm cả Arthritis Foundation) khuyến cáo rằng bạn nên nói cho bác sĩ của bạn biết về bệnh dị ứng của bạn. Hầu hết nguyên nhân gây dị ứng là do proteins trong đồ biển, không phải chitin-là dạng carbohydrate mà từ đó glucosamine được chiết xuất.
5. Bạn nên sử dụng glucosamine ở liều được khuyến cáo.
Liều ban đầu là 1.500mg glucosamine và 1.200 mg chondroitin mỗi ngày trong vòng 6 đến 8 tuần. Nếu có đáp ứng, có thể giảm liều xuống còn 1.000mg glucosamine và 800mg chondroitin hay ít hơn nữa. Bạn có thể sử dụng glucosamine trong khi vẫn dùng các thuốc trị viêm khớp thông thường. Nếu thuốc có tác dụng, bạn nên tiếp tục sử dụng trong vài tháng.
6. Bởi vì ngành công nghiệp sản xuất chế phẩm bổ sung phần lớn chưa được quản lý, các sản phẩm chứa glucosamine không phải lúc nào cũng đạt chất lượng cần thiết.
Một lời khuyên là bạn nên mua các chế phẩm bổ sung từ những công ty lớn, có uy tín. ConsumerLab.com phân tích chất lượng của một vài chế phẩm bổ sung và nhận thấy rằng trong một vài sản phẩm, liều lượng của chất bổ sung không đạt đến mức ghi trên bao bì. Do đó người mua cần thận trọng.
7. Nếu bạn gặp phải các phản ứng phụ thông thường, bạn nên chuyển sang các nhãn hàng khác trước khi bỏ uống glucosamine.
Những tác dụng phụ thông thường liên quan đến glucosamine: đầy hơi, đi ngoài phân mềm, khó chịu đường tiêu hóa, buồn ngủ, mất ngủ, đau đầu, dị ứng da, nhạy cảm với ánh nắng mặt trời, móng trở nên cứng. Glucosamine cũng có thể gây tăng huyết áp tạm thời và tăng nhịp tim, nhịp mạch.
8. Sau vài nghiên cứu, ảnh hưởng của glucosamine lên đường huyết vẫn chưa rõ ràng.
Bệnh nhân bị tiểu đường hay bệnh nhân bị hạ đường huyết được khuyên là cần thận trọng khi sử dụng glucosamine. Những bệnh nhân này cũng nên theo dõi đường huyết thường xuyên. Bởi vì glucosamine là một đường amino nên tốt nhất là bạn nên thận trọng và thông báo với bác sĩ của bạn khi sử dụng nó.
9. Glucosamine có thể tăng nguy cơ chảy máu ở một số bệnh nhân.
Những bệnh nhân rối loạn chảy máu, những bệnh nhân đang uống thuốc gây loãng máu, những bệnh nhân đang uống aspirin hằng ngày nên kiểm tra thường xuyên thời gian đông máu để kiểm soát tình hình. Liều glucosamine nên được hiệu chỉnh khi phát hiện có vấn đề.
10. Glucosamine không được khuyến cáo sử dụng trong thời kì mang thai hay cho con bú.
Bởi vì thiếu các chứng cứ khoa học trong lĩnh vực này, glucosamine được khuyến cáo nên tránh sử dụng trong thời gian mang thai và cho con bú.
 
 
 

The WINCARE is official partner of the following associations: Shopping Cart (0)